Lĩnh vực nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ:
Phòng Khoa học Công nghệ & Dự án có nhiệm vụ tham mưu cho Ban Giám hiệu thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Tham gia, hợp tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, trao đổi học thuật và giao lưu trong nước cũng như với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Hiện nay, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu xây dựng một nước công nghiệp. Đây là giai đoạn tạo ra những tiền đề cơ bản cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước v́ì vậy vấn đề nhân lực có trình độ cao và vấn đề phát triển khoa học – công nghệ phải được đặt lên hàng đầu. Khoa học – công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực cơ bản của sự phát triển.
Trường ĐHBK TP Hồ Chí Minh là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học đa ngành, hiện có 11 Khoa, 12 Trung Tâm.
Các Khoa là :
- Khoa Cơ khí
- Khoa Công nghệ Vật liệu
- Khoa Kỹ thuật Hóa học
- Khoa Điện-Điện tử
- Khoa Kỹ thuật Xây dựng
- Khoa Kỹ thuật Địa chất – Dầu khí
- Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính
- Khoa Quản lý Công nghiệp
- Khoa Kỹ thuật Giao thông
- Khoa Môi trường
- Khoa Khoa học Ứng dụng.
Các Trung tâm nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ :
- Trung tâm Bồi Dưỡng Kỹ Thuật & Văn Hóa Bách Khoa
- Trung tâm Công Nghệ Lọc Hóa Dầu
- Trung tâm Công Nghệ Thông Tin Địa Lý (GIS)
- Trung tâm Đào Tạo Bảo Dưỡng Công Nghiệp
- Trung tâm Hỗ Trợ Sinh Viên và Việc Làm
- Trung tâm Nghiên Cứu Công Nghệ và Thiết Bị Công Nghiệp
- Trung tâm Kỹ Thuật Điện Toán
- Trung tâm Nghiên Cứu Công Nghệ và Thiết Bị Cơ Khí
- Trung tâm Nghiên Cứu Ứng Dụng Công Nghệ Xây Dựng
- Trung tâm Ngoại Ngữ
- Trung tâm Nghiên Cứu và Hỗ Trợ Đào Tạo về Quản Trị Doanh Nghiệp.
- Trung tâm Nghiên Cứu Vật Liệu Polymer
Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh phục vụ chủ yếu khu vực phía Nam, đặc biệt khu vực Miền Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long. Đây là khu vực năng động, giàu tiềm năng, đứng hàng đầu trong cả nước về nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - xă hội cũng như tỷ trọng đóng góp cho ngân sách Nhà nước. Chính vì vậy hoạt động khoa học công nghệ của Trường cần phát triển mạnh mẽ để đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh tế - xă hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Trường có nhiều hợp đồng chuyển giao công nghệ phục vụ đời sống mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mặc khác công tác nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ không chỉ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, mà còn là điều kiện không thể thiếu để giúp cho quá trình đào tạo đại học, sau đại học phù hợp với sự phát triển của kinh tế xă hội và nâng cao chất lượng đào tạo. Đồng thời thông qua nghiên cứu khoa học nhà trường cũng đă có được một đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các cán bộ giảng dạy của trường và bên cạnh đó phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong số các sinh viên khá giỏi .
Trong những năm qua, Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh luôn là đơn vị đạt nhiều thành tích trong công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đă thực hiện nhiều đề tài thuộc các nhiệm vụ công nghệ ở các cấp khác nhau: cấp Nhà Nước, cấp Bộ (Đại Học Quốc Gia), cấp Thành Phố và địa phương. Các ngành mũi nhọn của công nghiệp như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, tự động hoá, công nghệ tạo mẫu nhanh…đều có mặt ở Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy Trường có rất nhiều thuận lợi trong việc đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Có thể nêu lên một số các kết quả tiêu biểu trong hoạt động NCKH&CGCN trong khoảng thời gian từ 1999-2002, theo các lănh vực khác nhau:
1/ Nghiên cứu và xây dựng môi trường phát triển lập trình xử lý song song trên hệ đa xử lý Supernode:
Đề tài nghiên cứu một mô hình kiến trúc song song, liên kết những máy tính rẻ tiền lại với nhau thành một hệ thống đa xử lý gồm các máy PC thông dụng được liên kết với nhau bằng các thiết bị kết nối tốc độ cao (100 Mbps) có cấu hình liên kết động. Sản phẩm được tạo ra bao gồm các phần mềm hệ thống (hệ điều hành đa xử lý chạy trên các nút của Supernode; môi trường truyền nhận thông điệp trên hệ chuẩn MPI), cũng như các phần mềm công cụ (các hàm thư viện phục vụ các tính toán khoa học dựa trên tiêu chuẩn CORBA; công cụ lập trình song song trên hệ thống với giao diện đồ hoạ). Phạm vi ứng dụng của đề tài là trong việc giải quyết các bài toán đ̣i hỏi khối luợng tính toán rất lớn (bài toán mô phỏng trong lănh vực quốc pḥng, giao thông vận tải, bài toán về kết cấu, tính toán độ thấm trong lănh vực dầu khí ...)
2/ Chế tạo và lắp đặt những tay máy lấy sản phẩm trên máy ép nhựa:
Giúp tăng năng suất, bảo đảm an toàn cho người lao động, tiết kiệm ngoại tệ, phù hợp với khả năng đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện đề tài đang ứng dụng tại Công ty Nhựa Bảo Vân, xưởng Sản xuất đĩa CD (nhà máy Z755). Chuẩn bị ứng dụng tay máy cấp phôi và lấy sản phẩm chai nhựa PET ở Công ty Nhựa Đô Thành.
3/ Thiết kế, sản xuất, lắp đặt hệ thống xử lý môi trường y tế:
Hệ thống đốt rác y tế do Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ và Thiết bị Công nghiệp lắp đặt có khả năng tiêu hủy hoàn toàn rác y tế (nhờ sử dụng công nghệ đốt rác 2 lần), chuyển hóa các chất hữu cơ thành tro vô cơ, vô hại. Hệ thống được trang bị thiết bị xử lý khói thải, nhằm thanh lọc và chuyển hóa hóa học các thành phần độc hại của khí thải để đạt được TCVN - 5939 - 1995.
4/ Xử lý chất thải hữu cơ nhà máy đường để sản xuất phân sinh hoá.
Với mục tiêu giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải của các nhà máy đường tạo ra, đồng thời sản xuất phân sinh học có chất lượng cao từ các chất thải này, đề tài đă nghiên cứu và sản xuất chế phẩm vi sinh vật mang tên Biovina, vừa có khả năng phân hủy cellulose, vừa có khả năng phân hủy chất sáp và có khả năng kích thích sinh trưởng và mùn hóa chất hữu cơ. Đă nghiên cứu các điều kiện kỹ thuật lên men chất thải hữu cơ (bùn lọc) của Nhà máy đường chế phẩm Biovina như nhiệt độ, độ ẩm, pH, điều kiện thổi khí, tỉ lệ chế phẩm Biovina và từ đó tìm ra những số liệu tối ưu của các điều kiện trên, ở cả trong pḥng thí nghiệm và trong điều kiện sản xuất. Công nghệ xử lý chất thải nhà máy đường để sản xuất phân sinh hóa cao cấp đă được áp dụng thành công tại Công ty Thiên Sinh, Nhà máy Đường Hiệp Hoà, Nhà máy Đường Phan Rang, cũng như được triển khai tại các nhà máy Bến Tre, Hậu Giang ....
5/ Nghiên cứu, chế tạo vật liệu polimer – composite làm việc ở nhiệt độ cao và chịu môi trường:
Chế tạo được vật liệu composit trên cơ sở nhựa epoxy-novolac sợi kevla, có khả năng làm việc ở nhiệt độ T ³ 200oC (giới hạn 250oC), chịu lực cao ³ 1.000 at và không dẫn nhiệt ở nhiệt độ 200oC.
Đă chế tạo bạc chịu nhiệt, áp lực, cách điện ở nhiệt độ 200oC cho dàn khoan Vietsopetro, được đánh giá tốt.
Bước đầu chế tạo được poliimid chịu nhiệt, chịu môi trường cao. Màng poliimid có khả năng làm việc ở nhiệt độ 300-400oC, có tính điện môi cao, chịu môi trường tốt. Đây là loại vật liệu hoàn toàn mới ở Việt Nam, loại màng poliimid nhựa nhiệt dẻo.
Đă nghiên cứu tổng hợp nhựa poliimid nhiệt rắn dùng làm keo dán, vật liệu composit có khả năng làm việc ở nhiệt độ 300-350oC.
6/ Động cơ gió trục đứng cánh mềm:
Kết quả của nhóm nghiên cứu là những mẫu động cơ gió trục đứng cánh mềm HL250, HL300, HL350, vừa mang tính hiện đại, xét về nguyên lý hoạt động, vừa dễ chế tạo và giá thành rẻ so với các loại động cơ có khác cùng công suất. Điểm nổi bật của đề tài nghiên cứu là đă đưa ra giải pháp tự khởi động với việc sử dụng cánh mềm và hoàn chỉnh công nghệ cánh mềm có profile mỏng khí động kết hợp với hệ lò xo làm thay đổi bước cánh. Từ 1996 đến nay, hàng trăm động cơ gió phát điện và bơm nước đă được lắp đặt tại nhiều địa phương trong cả nước như: vùng Tây Bắc, đảo CôTô, Huế, Bình Thuận, Phú Yên, Bạc Liêu, Đồng Nai..., phục vụ cho việc sản xuất muối, nuôi trồng tảo, cung cấp nước tưới tiêu và cấp nước sinh hoạt. Đặc biệt, tháng 06/2000 UNICEF đă ứng dụng những động cơ gió này (HL350) để xây dựng trạm cấp nước sinh hoạt cho các cụm dân cư và trường tiểu học ở các vùng sâu, vùng xa không có lưới điện quốc gia (tại tỉnh Đồng Nai, Khánh Hoà, Vĩnh Long).
7/ Nghiên cứu thủy văn và thủy lợi vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long:
Mục tiêu của đề tài này là phác họa chân dung ḍng chảy ở vùng ngập lũ Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) để làm “nền” cho các ngành nông nghiệp, xây dựng, bố trí dân cư, giao thông, giáo dục… định hướng phát triển. Qua đấy, cũng đánh giá các biện pháp chế ngự dòng chảy đă và đang thực hiện , như công trình “Thoát lũ Biển Tây”, các công trình “Sống chung với lũ”,… Đề tài gồm 4 phần:
a/ Chế độ nước mùa lũ: Giới thiệu địa bàn vùng ngập lũ, diễn biến lũ h́nh thành trên đồng bằng Campuchia và khi truyền tới Việt Nam, diễn biến lũ theo không gian và thời gian khi truyền qua ĐBSCL, các nhân tố ảnh hưởng đến lũ, các giải pháp kiểm soát lũ đă và dự kiến thực hiện, đánh giá tác động của các công trình kiểm soát lũ này.
b/ Chế độ nước mùa kiệt: Các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước mùa kiệt, xác định cột nước bơm (năng lượng bơm) cho vụ Hè thu và Đông xuân theo không gian và thời gian, đề nghị một số hệ thống canh tác theo chế độ nước.
c/ Chất lượng nước và chuyển tải phù sa: Xác định ranh mặn, ranh phèn trong vùng lũ; xác định giới hạn của vùng bồi lắng phù sa, tốc độ bồi lắng và thành phần phù sa.
d/ Sạt lở bờ sông: các nguyên nhân gây sạt lở bờ sông, các vùng sạt lở mạnh, tốc độ sạt lở, một số giải pháp khắc phục.
Qua đề tài cũng nhận dạng một số vấn đề thủy văn-thủy lợi cần tiếp tục làm rơ như: mô h́nh toán lũ; diễn biến lũ, phù sa, phèn, mặn,…sau khi có công trình kiểm soát lũ; xói lở bờ sông…
Qua 2 cơn lũ lớn năm 2000,2001 cho thấy đề tài đánh giá khá chính xác về hiệu quả khiêm tốn của công trình: “Thoát lũ Biển Tây”, hiện nay các địa phương đă chuyển hướng đầu tư ưu tiên phát triển khu dân cư an toàn vùng lũ, thay v́ ưu tiên kiểm soát lũ như trước đây.
8/ Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật laser bán dẫn trong điều trị di chứng liệt nửa người:
Di chứng liệt nửa người do tai biến mạch máu não là căn bệnh khó điều trị. Phương pháp điều trị mới dựa trên cơ sở các thiết bị dùng kỹ thuật laser bán dẫn do Pḥng Thí Nghiệm Công Nghệ Laser phát triển đă được áp dụng, chuyển giao cho trên 34 cơ sở chữa trị ở 12 tỉnh và 2 thành phố lớn (TP Hồ Chí Minh và TP Đà nẵng) với các kết quả khả quan, với các đặc điểm: không gây đau, tránh được việc lây lan các bệnh hiểm nghèo, thời gian bệnh nhân phục hồi nhanh, hiệu quả điều trị cao, giá thành điều trị thấp, kỹ thuật vận hành thiết bị trong điều trị đơn giản, dễ phổ cập...
Ngoài các đề tài NCKH, trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh còn thực hiện các dự án.Sản xuất thử nghiệm như:
- Chế tạo thiết bị rang tẩm cà phê nhân năng suất 60-100 kg/mẻ.
- Sản xuất chế phẩm vi sinh vật Biovina để xử lý chất thải, nước thải hữu cơ và sản xuất phân sinh học
- Chế tạo các phai cống thủy lợi bằng vật liệu composite cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Song song với việc thực hiện các đề tài NCKH và các dự án sản xuất thử, trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh còn tham gia chuyển giao công nghệ với giá trị các hợp đồng chuyển giao năm sau cao hơn năm trước.
|